A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

TÁC GIA NGUYỄN TUÂN

49tjf49edf:News:Id
edf40wrjww2News:ContentNew

 

Bài học này nhằm củng cố các kiến thức xoay quanh tác giả Nguyễn Tuân và tuỳ bút “Người lái đò Sông Đà”.

- Đặc điểm con người Nguyễn Tuân. (Tại sao người ta cho rằng: Cái tôi của Nguyễn Tuân chính là một định nghĩa đích thực về nghệ sĩ?)

- Các chủ đề chính trong sáng tác.

- Phong cách nghệ thuật độc đáo và sự vận động của phong cách, từ đó rút ra bài học về sáng tạo nghệ thuật.

- Hình tượng Sông Đà như một sinh thể sống động với những nét tính cách đối lập mà thống nhất: hung bạo, dữ dội, hùng vĩ nhưng cũng không kém dịu dàng, êm đềm, trữ tình.

- Hình tượng người lái đò Sông Đà vừa là một dũng sĩ vừa là một nghệ sĩ trong nghệ thuât leo ghềnh vượt thác.

- Dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân trong “Người lái đò Sông Đà”.

 

KIẾN THỨC CƠ BẢN

A. NGUYỄN TUÂN

I. Tiểu sử

- Quê hương: làng Nhân Mục, Thanh Xuân, Hà Nội.

- Gia đình: xuất thân trong gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn, cha tài hoa bất đắc chí, sinh bất phùng thời, có thể nói môi trường gia đình, đặc biệt là người cha có ảnh hưởng sâu sắc tới cá tính con người và cá tính nghệ thuật Nguyễn Tuân.

- Bản thân :

+ Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân là cây bút tiêu biểu cho văn xuôi lãng mạn thời kì cuối cùng.

+ Sau Cách mạng tháng Tám, nhà văn nhiệt thành đi theo cách mạng, hòa nhập vào cuộc sống lớn của nhân dân, đem ngòi bút phục vụ đắc lực hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và công cuộc xây dựng đất nước.

+ Đối với lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn xuôi quốc ngữ hiện đại, đặc biệt ở riêng thể loại tùy bút.

- Tác phẩm tiêu biểu: Vang bóng một thời, Tùy bút kháng chiến (1955), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Tuyển tập Nguyễn Tuân (1981)

II. Con người

-Trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc: có những nét riêng biệt

+ Gắn bó với các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc: tiếng mẹ đẻ, kiệt tác văn chương, nhạc điệu hoặc đài các của thể ca trù hoặc dân dã của các điệu hòa xứ Quảng…

+ Say mê cảnh sắc đẹp của quê hương đất nước.

+ Trân trọng những thú chơi tao nhã của trí thức nho gia tài hoa sinh bất phùng thời.

- Ý thức cá nhân phát triển rất cao:

+ Quan niệm “Đời là một trường du hí” - “Sống là chơi mà viết cũng là chơi” > Viết là một hình thức chơi văn độc đáo nhưng đã đẩy việc chơi đến đỉnh cao – chơi một cách nghệ thuật > Với Nguyễn Tuân viết văn trước hết là để khẳng định cá tính độc đáo của mình.

+ Ham du lịch, nâng niềm ham thích này thành lý thuyết - “chủ nghĩa xê dịch”, với lối sống tự do, phóng túng, quá khuôn khổ chế độ thuộc địa đương thời.

- Con người rất mực tài hoa, uyên bác:

+ Tài hoa : tuy viết văn nhưng am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh…

+ Biết vận dụng con mắt nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác để tăng cường khả năng quan sát, biểu hiện thế giới của nghệ thuật ngôn từ.

+ Sự uyên bác: ham đọc, tạo cho mình vốn tri thức sâu rộng, bề thế  > làm giàu chất tài hoa nghệ sĩ -> vẽ nên bức tranh đời sống, con người chân xác, đầy “sinh sắc” ngay cả những nơi mà ông chưa đặt chân tới.

- Biết quí trọng nghề nghiệp văn chương:

+  Quan niệm lao động nghệ thuật là hình thức lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh”.

+ Trân trọng nghề viết là trân trọng độc giả, trân trọng chính mình – lòng tự trọng, ý thức giữ gìn nhân cách của bản thân. (Nhân cách của nhà văn chính là văn cách của anh ta – ý của Trần Dần).

+ Dứt khoát phân biệt nghề văn với thói con buôn vụ lợi (“Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn cho là vô ích. Ở đâu có đồng tiền, ở đó cái đẹp không tồn tại” - Nguyễn Tuân)

III. Sự nghiệp sáng tác

1. Quá trình sáng tác và các đề tài chính

a. Quá trình sáng tác

- Thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng…Năm 1938, nhận ra sở trường tùy bút > bắt đầu có những tác phẩm thành công xuất sắc.

-  Sau cách mạng tháng Tám, vẫn tiếp tục khai thác thế mạnh tuỳ bút và có một số tuỳ bút nổi tiếng: “Sông Đà”, “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi”.

b. Những đề tài chính:

* Trước cách mạng: 3 đề tài chính:

• Vẻ đẹp vang bóng một thời

Khơi nguồn từ những cảm giác mới lạ, của những vẻ đẹp trong quá khứ còn vương sót lại trong hiện tại.

Đối tượng miêu tả: phong tục cổ truyền, thú tiêu dao lành mạnh, cách ứng xử đầy nghi lễ…

Giá trị:

Phát hiện đầy trân trọng về chất tài hoa, nghệ sĩ của lớp nhà nho xưa trong đời sống văn hoá, sinh hoạt hàng ngày.

Tình yêu, niềm tự hào truyền thống văn hoá dân tộc. Thực chất là nổi loạn của cái “tôi” tài hoa, khinh bạc chống lại xã hội phàm tục đương thời.

Tác phẩm: “Vang bóng một thời”, “Tóc chị Hoài”.

• Chủ nghĩa xê dịch:

Nguồn gốc: lý thuyết từ phương Tây, chủ trương:

Đi là: Không cần mục đích.Thay đổi chỗ ở, tìm cảm giác mới lạ, thoát li mọi trách nhiệm với gia đình, quê hương.

Với Nguyễn Tuân, Xê dịch là:

Thay đổi thực đơn cho các giác quan.

Biểu hiện thái độ bất mãn với hiện thực xã hội “ối a ba phường”- một sân khấu hề kịch.

Thể hiện lòng yêu nước, tinh thần dân tộc qua những “trang hoa”, “tờ hoa” về phong cảnh  > có những khám phá thú vị, bất ngờ bằng ngòi bút tài hoa, tấm lòng gắn bó, tự hào, kiêu hãnh về đất nước, về giá trị truyền thống dân tộc mà nhờ đi mới biết.

Tác phẩm: “Một chuyến đi”, Chiếc lư đồng mắt cua”.

• Đời sống trụy lạc:

Cung cấp cho Nguyễn những kích thích mạnh về giác quan: rượu cồn, thuốc phiện, hát ả đào…

Nội dung: Cái tôi hoang mang, hoảng loạn, không phương hướng, bế tắc. Khao khát vươn tới cái thanh cao, thánh thiện nhờ đôi cánh nghệ thuật.

Tác phẩm: “Chiếc lư đồng mắt cua”.

*Sau cách mạng: Tiếp tục đề tài: chủ nghĩa xê dịch.

• Động lực: Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, Nguyễn Tuân  chào đón, phục vụ cách mạng nhiệt tình.

• Mục đích xê dịch:

Kiếm tìm vẻ đẹp của non sông - chất “vàng mười” của thiên nhiên.

Phát hiện chất “vàng mười đã qua thử lửa”, chất ngọc tiềm ần trong các tầng lớp nhân dân - những người lao động đang tiến hành xây dựng, chiến đấu và bảo vệ đất nước.

• Hình tượng nghệ thuật trung tâm: nhân dân vừa dũng cảm, anh hùng vừa là nghệ sĩ tài hoa.

• Nội dung:

Tôn vinh tầm vóc, vị thế một dân tộc có văn hoá, sang trọng, sinh ra trên mảnh đất có bề dày lịch sử, ngàn năm văn hiến.

Nhuận sắc cho vẻ đẹp của con người Viêt Nam, dân tộc Việt Nam (miêu tả độc đáo chất tài hoa, nghệ sĩ)

2. Phong cách nghệ thuật

* Nhận định chung: gói gọn trong một chữ “ngông”

+ Ngông là:

• Một việc làm khác đời, ngược đời, bất bình thường một cách tài hoa để khinh đời, nhạo đời. Ngoài tài hoa, người chơi phải có nhân cách.

• Thường thích những cái độc đáo không giống ai.

+ Nguyễn Tuân chơi ngông:

• Bằng văn chương  > băn khoăn: viết cái gì cũng phải khác lạ (đề tài, nhân vật, kết cấu, cách hành văn, sáng tạo hình ảnh, dùng từ, đặt câu…)  > văn khoe tài hoa, uyên bác.

• Cơ sở:

Đối lập với môi trường thị dân tầm thường ngày xưa.

Khẳng định văn cách, cá tính. > kế thừa truyền thống chơi ngông trong văn chương: Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà…

* Đặc điểm:

- Sự tài hoa, uyên bác:

• Tài hoa:

Cơ sở: quan niệm viết một tác phẩm cần có cái độc đáo, khác đời

Biểu hiện:

+Tiếp cận đối tượng ở phương diện: văn hóa nghệ thuật thẩm mĩ

+Tiếp cận con người ở góc độ: nghệ sĩ > mở rộng phạm vi khái niệm: không chỉ là những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật mà bất kể ai, làm nghề gì, nếu biết nâng công việc của mình lên một cách phi thường, siêu phàm, độc đáo đều là nghệ sĩ  > phát hiện chất “vàng mười đã qua thử lửa trong những con người, những công việc tưởng như rất bình thường, dung dị.

+Tiếp cận thiên nhiên: như một tuyệt tác nghệ thuật của tạo hóa, vừa kì vĩ vừa nên thơ quen thuộc.

• Uyên bác:

+ Vận dụng tri thức của nhiều ngành nghệ thuật, nhiều lĩnh vực đời sống để miêu tả đối tượng.

Giàu thông tin, giàu giá trị tư liệu > lối viết “bới lông tìm vết”, khám phá tới “sơn cùng thủy tận” đối tượng.

+ Chữ nghĩa giàu có

Cơ sở:  quan niệm viết văn là dốc cạn kho tàng chữ nghĩa để chạy đua cùng tạo hóa, để khoe chữ.

Biểu hiện: Sáng tạo từ ngữ, hình ảnh trong văn mới lạ, ấn tượng, giàu sức biểu cảm nhờ liên tưởng chính xác, tài hoa: nước Hồ Gươm xanh màu xanh “canh rau muống luộc nhừ”, nước Sông Đà mùa thu “lừ lừ chín đỏ như da mặt người  bầm đi vì rượu bữa”, “chuối ngự ngọt còn thơ Tú Xương rất chát”…> tạo khoái cảm thẩm mĩ cho người đọc.  Biệt tài cá biệt hóa sắc độ các sự vật, hiện tượng: trăng “vàng nẫu”, áo cà sa “vàng sư sãi”, chuối vàng “giẫy nẫy”…

+ Câu văn co duỗi nhịp nhàng giàu nhạc điệu.

- Cảm quan nghệ thuật sắc nhọn, phong phú:  Hứng thú đặc biệt trước những cảnh tượng gây ấn tượng mạnh với giác quan nghệ sĩ.

Cơ sở: quan niệm sống hay viết cũng không chấp nhận cái gì phẳng lặng, dễ dãi, chung chung, nhàn nhạt, đơn chiều > luôn thèm khát những cảm giác mạnh, hứng thú với những cái đẹp tuyệt vời hoặc tuyệt đỉnh dữ dội.

Biểu hiện: đối tượng của những trang viết ấn tượng: thác (sông Đà), đèo (Cổng Trời), bão (Cô Tô), gió (Lào)…

3.Tùy bút Nguyễn Tuân

- Đặc trưng thể loại:

+ Thuộc thể có tính chất trung gian, vừa có tính chất kí (ghi chép), vừa có chất thơ (trữ tình) vừa mang màu sắc triết học trong tư duy.

+ Thể văn tự do, tùy hứng nhưng cũng không quá phóng túng.

+ Nguyên tắc kết cấu: vừa tán, vừa tụ

Bề mặt: tản mạn, lắp ghép, chắp vá, đầu Ngô mình Sở.

Bề sâu: nhất quán về ý nghĩa, tư tưởng: chủ đề > tạo trục xuyên suốt > người viết tùy bút tài hoa: trường liên tưởng phong phú, biến hóa, tán tụ như khối vuông ru bích.->Tùy bút Nguyễn Tuân: đỉnh cao tùy bút Việt Nam,viết một bài tùy bút hay không quá khó nhưng để viết như một sở trường chỉ có Nguyễn Tuân.

Qua tùy bút, thấy một cái tôi tài hoa, uyên bác. Viết nhiều tùy bút, nhưng mỗi tùy bút đều có nét riêng, với khả năng sáng tạo dồi dào.

- Sự thống nhất và vận động của phong cách Nguyễn Tuân qua những sáng tác trước và sau cách mạng tháng Tám.

- Sự thống nhất (4 đặc điểm)

- Sự vận động:

+ Đối tượng:  Trước cách mạng, những con người đặc chủng, đặc tuyển >  Sau cách mạng, những con người bé nhỏ, bình thường.

+ Cảm quan sắc nhọn: Trước cách mạng,  tìm trong đời sống trụy lạc > Sau cách mạng , tìm trong công cuộc xây dựng và  bảo vệ đất nước.

+ Tùy bút: Trước cách mạng, hướng nội, cái tôi khinh bạc, choán ngợp mọi đối tượng > Sau cách mạng , làm giàu bởi chất kí, thiên về hướng ngoại, giọng văn đôn hậu, nếu có khinh bạc là với kẻ thù. Qua tùy bút Nguyễn Tuân người đọc cảm nhận về con người Việt Nam có nghĩa khí, anh hùng và tư thế sang trọng của một đất nước có hàng nghìn năm văn hiến. Văn Nguyễn Tuân không chỉ là lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn.

 

                                        Bài tùy bút: Người lái đò Sông Đà

1. Hình tượng Sông Đà.

- Lời đề từ:

+ Thơ Nguyễn Quang Bích:

“Chúng thủy giai đông tẩu/Đà giang độc bắc lưu” > độc đáo

 +Thơ của nhà thơ Ba Lan:

“Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”:  đẹp  

> đẹp, độc đáo  là nguồn cảm hứng và đối tượng thẩm mỹ của Nguyễn Tuân.  

 a.Tính hung bạo.

- Thế lực thứ nhất: Vách đá “dựng vách thành”, được đặc tả bằng một loạt các liên tưởng, so sánh cụ thể, độc đáo:

+ Mặt sông chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời.

+ Chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu.

+ Có quãng con nai con hổ đã có lân vọt từ bờ này sang bờ kia.

+ Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh…

 > Ấn tượng: lòng sông hẹp, sâu, dốc thẳng đứng, tạo cảm giác rợn lạnh.

- Thế lực thứ 2: Ghềnh đá ở Hát Loong

+  Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt.

Câu văn có kết cấu trùng điệp, liên hoàn, nhịp ngắn tạo giọng văn dồn dập, gấp gáp, từ ngữ  tả âm thanh dồn đuổidữ dội > ấn tượng hãi hùng, rùng rợn của dòng sông.

- Thế lực thứ 3: Hút nước tử thần

+ Từ trên nhìn xuống: rộng như cánh quạ đàn và sâu giếng bê tông.

   Mặt giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh.

+ Từ đáy hút nước nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải.

+ Thuyền trồng cây chuối ngược > Hút nước tử thần, chết chóc.

 >Nhận xét:

• Đặc tả hút nước Sông Đà: rộng, sâu, sáng, xanh trong thăm thẳm.

• Kết hợp thủ pháp của văn học và thủ pháp của điện ảnh, trong cảm nhận của người quay phim, của người xem phim > truyền đến độc giả cảm giác chân thực, sống động như tận mắt chứng kiến > Sông Đà không chỉ hung bạo mà còn đẹp một cách hùng vĩ.

- Thế lực thứ 4: Trận địa thác đá

- Thác:

+ Réo gần mãi, lại réo to mãi lên 

+ Giọng “Nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”.

“Rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa như nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng” > dùng lửa để tả nước – hai yếu tố vồn tương khắc, giờ lại hòa hợp để tương sinh trong một so sánh độc đáo gợi không khí của một trận cuồng lửa, cháy rừng, âm thanh cùng quẫn tuyệt vọng > nhấn mạnh sức tàn phá khủng khiếp, hủy diệt ghê gớm của Sông Đà.

- Đá:

+ Lực lượng hùng hậu: đá hòn , đá tảng, đá tướng, đá quân, đá tiền vệ, hậu vệ, mặt hòn đá nào cũng ngỗ ngược, “nhăn nhúm”, “méo mó”đứng, ngồi, nằm, nghiêng với những nhiệm vụ riêng

+ Bày thành 3 tuyến nhằm tước đoạt và hủy diệt đến cùng sự sống của con người: giở mọi thủ đoạn, miêu ma chước quỷ để dẫn dụ, phục kích > “binh pháp” sâu hiểm của “thần sông thần đá”.

 + Chọn khúc ngoặt – khi tầm nhìn bị hạn chế để đánh phục kích.

 + Dụ người vào sâu thế trận, đánh quật vu hồi > cô lập hóa, chặn mọi đường sinh.

 + Khi giáp lá cà: giở mọi ngón đòn hiểm ác: nước thác reo hò làm thanh viện…uy hiếp tinh thần đối phương. Thạch trận không chỉ có vẻ hung hãn, dữ dằn của vách đá, hút nước mà còn bộc lộ bản chất nham hiểm, xảo quyệt

>Ấn tượng về con sông:

• Mang diện mạo một kẻ thù, dòng sông hung thần, tâm địa hiểm ác

• Thách thức đối với con người, gợi ham muốn chinh phục, khám phá, chế ngự dòng sông hung bạo.

• Lối viết bạo liệt, Nguyễn Tuân đi  tìm thứ vàng 10 của thiên nhiên, tiềm năng của ngành thủy điện.

b .Tính trữ tình

 Điểm nhìn miêu tả động: từ trên cao, xa, theo mùa, ngồi thuyền đi trên mặt sông. Những liên tưởng, tưởng tượng phong phú. Từ trên cao thấy dáng vẻ >mỹ nhân - Người đi rừng đã lâu > cố nhân - Từ trên thuyền > tình nhân.

- Dáng vẻ:

+ “Tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” > câu văn dài không dấu > vẻ đẹp duyên dáng, thơ mộng, e ấp như mang cả hương thơm quyến rũ của núi rừng ( áng tóc thơm hương hoa ban hoa gạo). Như mỹ nhân kiều diễm, hoà dáng hình nhan sắc của mình vào vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người.

- Màu nước:

+ Mùa xuân dòng xanh ngọc bích chứ Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô >màu nước cũng là màu trời, cỏ cây tươi tốt hai bờ sông.

+ Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về. > Dòng chẩy chậm nặng > Khả năng quan sát tinh tế, ngôn ngữ cá thể hóa cao độ nhờ những so sánh độc đáo, chân xác để lọc ra sắc nước riêng biệt của Sông Đà > Bác bỏ cách TDP gọi Sông Đà là sông Đen – con sông chết chóc > lòng yêu nước của Nguyễn Tuân.

- Cảm nhận con Sông Đà  trên tư cách một người đi rừng đã lâu gặp lại “cố nhân”

+ “Màu nắng tháng ba Đường thi” > liên tưởng độc đáo > nắng sông Đà như ngậm thơ,  ngậm họa 

+ Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng > nắng toả niềm vui rạo rực trong lòng, dòng sông khi xa thì nhớ khi gần thì thương, gặp SĐ như gặp lại cố nhân mà có cảm giác "đằm đằm âm ấm", một cảm giác bồi hồi xao xuyến.

- Khung cảnh đôi bờ:

+ Bút pháp dùng động để tả tĩnh  > đặc tả cái thanh tịnh tuyệt cùng của bờ bãi sông Đà.

+ Hình ảnh: đẹp, trong trẻo, thanh khiết, liên tưởng giàu chất thơ : Lá ngô non đầu mùa, cỏ gianh đồi núi ra những nõn búp, con nai thơ ngộ, áng cỏ sương >  tinh khôi, đọng hương của trời, sữa của đất ngào ngạt, non tơ.

+ Bờ sông: hoang dại như một bờ tiền sử, hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa > không xác định, không cụ thể nhưng giàu sức gợi, gợi về quá khứ, gợi trăm năm cổ tích, khơi lại những trầm tích tâm hồn người Việt  trong những trang viết cổ sơ > lấy những giá trị văn hóa truyền thống để so sánh > vĩnh viễn hóa bờ bãi sông Đà dòng sông mang linh hồn của vùng đất.

+ Tiếng còi sương > âm thanh trong tâm tưởng, dội về từ quá khứ > chi tiết độc đáo, diễn tả sâu sắc cái yên lặng khôn cùng của bờ sông, tĩnh đến mức người và vật giao cảm để lặng tìm âm thanh tự tâm hồn, tự thời gian thăm thẳm.

 c. Dấu ấn phong cách nghệ thuật.

- Hình tượng SĐ phù hợp với cái tôi độc đáo của NT nhà văn của tình cảm và cảm giác mãnh liệt.

- Cảm quan nghệ thuật sắc nhọn

- Sự tài hoa, uyên bác. Ngòi bút tài hoa và biến hóa của Nguyễn Tuân đã thổi linh hồn cho Sông Đà, hiện lên với những tính cách đối nghịch mà thống nhất: hung bạo và trữ tình > nguồn cảm hứng vô tận cho nghệ thuật. SĐ hiện thân cho vẻ đẹp của thiên nhiên trong mối tương giao muôn thủa với con người vừa là kẻ thù vừa là bầu bạn > ý nghĩa triết học của hình tượng

- Ca ngợi vẻ đẹp của quê hương đất nước > Lòng yêu nước của Nguyễn Tuân.

2. Hình tượng người lái đò

a. Khái quát:

+ Khắc họa trong tương quan với hình ảnh Sông Đà hung bạo.

+ Dụng ý: phẩm chất dũng cảm, gan dạ, kiên cường chỉ bộc lộ rõ nhất khi nhân vật đương dầu với khó khăn, thử thách. Giả sử đặt ông lái trong khung cảnh thi vị trữ tình của Sông Đà thì nhân vật sẽ trở thành một nghệ sĩ đa tình, lẫn vào thế giới nhân vật của Nguyễn Tuân trước Cách mạng. > Ông lái đò dưới ngòi bút Nguyễn Tuân vừa thông minh dũng cảm vừa tài hoa nghệ sĩ trong thiên sử thi leo ghềnh vượt thác.

  b.Ngoại hình

 L­ưu ý những nét riêng của ông lái đò bị tỉnh l­ược gần hết: không tên, rất ít nét ngoại hình… Điều này không phải ngẫu nhiên, nhà văn muốn dựng lên một người lái đò vô danh bình dị để chứng tỏ rằng những con ngư­ời như­ thế không phải là đặc biệt, có thể tìm thấy ở bất cứ đâu trong cuộc sống hàng ngày.

c. Phẩm chất.

* Thông minh dũng cảm:

Tương quan lực lượng giữa một bên là dòng sông hung bạo với sức mạnh thần thánh, một bên là người lái đò bé nhỏ với con thuyền đơn độc. Nguyễn Tuân miêu tả cuộc vượt thác như một trận đánh có nhiều hồi, nhiều đợt, mỗi đợt lại có những nguy hiểm, thử thách khác nhau

- Trùng vây 1:

+ Lực lượng: đá tướng, đá tiền vệ với nhiều thủ đoạn nham hiểm > hùng hậu, đông đảo, dữ dằn, hung hãn.

+ Giăng sẵn trận đồ bát quái: tập đoàn cửa sinh cửa từ, hệ thống boongke, pháo đài đá chìm nổi, lộ diện hay giấu mặt

• 4 cửa tử, 1 cửa sinh.

• Sóng trận địa phóng thẳng

• Mặt nước hò la vang dậy, ùa vào mà bẻ gẫy cán chèo võ khí trên cánh tay ông lái > dọa dẫm, sấn sổ,  hiếu chiến.

• Sóng nước như quân liều mạng đội thuyền lên > hùng hổ.

• Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình giữa trận nước vang trời thanh la não bạt > hung hăng như một đấu sĩ bất bại.

• Miếng đòn hiểm độc nhất: luồng nước(..) bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò > giở ngón đòn hiểm hóc quyết định nhằm nốc ao đối phương.

Vượt trùng vây 1:

• Hai tay giữ mái chèo .

•  Cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch.

•  Chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo.> vượt vòng vây bằng lòng quả cảm, sức mạnh của một chiến binh, dũng tướng xông pha trận mạc

Trùng vây 2:

• Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn > nham hiểm, xảo quyệt.

• Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá > thiên nhiên hùng mạnh như thú dữ.

• Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đòn cửa tử > dai dẳng, quyết liệt.

• Không ngừng khiêu khích.

> Vượt trùng vây thứ 2:

Không một chút nghỉ tay nghỉ mắt.

Nắm chặt lấy cái bờm sóng đúng luồng > ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, lái miết một đường chéo về phía cửa đá > thành thạo, chính xác, dũng mãnh trong từng động tác, linh hoạt, mưu lược trong chiến trận.

 Trùng vây 3:

• Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả.

• Luồng sống ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. 

>Vượt trùng vây 3:

• Phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa.

• Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép.> dũng cảm, nhanh gọn, dứt khoát.

 Nhận xét: Tương phản hai lực lượng: một bên là thiên nhiên – thác đá Sông Đà bạo liệt, hung tàn, sức mạnh vô song, một bên là con người – ông lái đò bé nhỏ trên con thuyền đơn độc, cạn kiệt sức để nhấn mạnh bản lĩnh, sự dũng cảm và khả năng chinh phục tự nhiên của con người.

* Tài hoa nghệ sĩ.

+ Nắm chắc qui luật của thần sông thần đá, thuộc qui luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở như người nghệ sĩ với bản nhạc của mình thuộc từng dấu thăng, dấu giáng, dấu chấm phẩy.. người nghệ sĩ ấy thật sự tự do tự trong diễn tấu của bản hùng ca vượt thác.

+ Động tác thuần thục, chính xác, am hiểu và làm chủ nghề nghiệp > Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với thiên nhiên với kẻ thù bốn chân hung dữ... con người am hiểu và làm chủ quy luật là con người tự do, dẫu đó là qui luật đầy khắc nghiệt, chỉ cần một chút lơi tay, do dự và mất bình tĩnh là có thể trả giá bằng cái chết.

+ Ra khỏi cuộc chiến khiêm nhường bình dị, bình thản nói về cá anh vũ, về cơm lam...không hề nhắc đến chiến công vừa qua

e. Dấu ấn  phong cách nghệ thuật.

 - Nét thống nhất:

+ Nguyễn Tuân vẫn tiếp cận con ng­ười ở ph­ương diện tài hoa, nghệ sĩ.

+ Cảm quan nhệ thuật sắc nhọn

+ Sự tài hoa, uyên bác. Kết hợp kiến thức uyên bác của nhiều lĩnh vực: võ thuật, thể thao, quân sự… và trí tưởng tượng phong phú cùng kho chữ nghĩa giàu có.(Nguyễn Tuân tả cuộc vượt thác bằng cách nhìn một trận đánh, một “thủy trận”, với những hiểu biết và những danh từ quân sự: nào là “mai phục”, “đánh khuýp”, “vu hồi”, “boong ke chìm và pháo đài nổi”… Có lúc, cuộc đấu của ông lái đò với thác nước lại được tả như một keo vật, một trận đấu võ, với những “đá trái”, “đá phải”, “đòn tía, đòn âm”) đã tái hiện bản trường ca về người anh hùng – nghệ sĩ lái đò trong nghệ thuật vượt thác.

-  Nét khác biệt qua 2 giai đoạn sáng tác:

+Trư­ớc cách mạng, ngòi bút Nguyễn Tuân thư­ờng h­ướng tới những con ngư­ời đặc tuyển, những tính cách phi th­ường. Sau cách mạng, những con ng­ười tài hoa nghệ sĩ của ông có thể tìm thấy ngay trong cuộc sống lao động thư­ờng ngày.

+ Tr­ước cách mạng, nhà văn th­ường khám phá vẻ đẹp thiên l­ương, thú chơi cao sang, đài các lớp nhà nho tài hoa bất đắc chí vang bóng một thời. Sau cách mạng, ông đi sâu phản ánh vẻ đẹp thể chất và tâm hồn mà ông gọi “chất vàng m­ười đã qua thử lửa” của những ng­ười lao động bình dị. Quan niệm mới về người anh hùng, hình ảnh ông lái hiện lên với tư cách người anh hùng trong lao động - nghệ sĩ làm chủ thiên nhiên.  Nguyễn Tuân xưng tụng tài hoa ông lái đò nhưng văn Nguyễn Tuân cũng xưng tụng chính Nguyễn Tuân, nhà văn cũng là ông lái tài hoa trên con đò chữ nghĩa giữa dòng sông văn chương không kém thác ghềnh. Ông xứng đáng được mệnh danh là “chuyên viên cao cấp tiếng Việt”, là “người thợ kim hoàn của chữ” (Ý của Tố Hữu). Trong lâu đài văn chương nghệ thuật dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20, rất dễ nhận ra phần chạm trổ tinh xảo của người nghệ sĩ ngôn từ Nguyễn Tuân.

(Trên đây là đề cương dạy bài Người lái đò Sông Đà trong sách Ngữ văn 12 nâng cao mong các bạn đồng nghiệp trao đổi đóng góp ý kiến cho bài học hoàn thiện hơn - Trân trọng cảm ơn)

                                                                                                                                            Tổ: Ngữ văn
Tác giả: Quản trị viên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Chính phủ điện tử
Video
Bản đồ vị trí
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 81
Hôm qua : 88
Tháng 06 : 1.605
Tháng trước : 3.122
Năm 2021 : 16.103
Năm trước : 3.370
Tổng số : 19.473